Khi tôi bắt đầu cảm thấy áp lực của việc không có lấy một thực nghiệm khoa học nào có thể kiểm chứng được để chứng minh địa vị của tôi là một nhà tiến hóa hữu thần, tôi quay sang cái mà tôi nghĩ là con át chủ bài của mình, Sáng-thế ký.  Chẳng lẽ không ai biết rằng khoa học di truyền đã chứng minh cách bất di bất dịch rằng tiến hóa đang diễn ra? Không có sự đột biến (những thay đổi trên gien và nhiễm sắc thể), thì sẽ không có sự thay đổi tiến hóa.  Câu hỏi của các sinh viên của tôi là, “Sự đột biến có sản sinh ra những dạng sống mới hay những cải thiện mới trong các dạng sống hiện tại không?” Một cách tự nhiên, tôi cho rằng nó sản sinh ra những dạng sống mới và tôi nghĩ tôi có thể chứng minh nó bằng tài liệu khoa học.  Tôi lại được một sự thức tỉnh khác!

Nhiều nhà sáng tạo (_) và các nhà tiến hóa nghiên cứu hiện tượng đột biến gen.  Quan điểm nổi bật hơn của các nhà tiến hóa được tiến sĩ Ernst Mayr trình bày: “Rõ ràng, tất cả những biến thể, dĩ nhiên, lệ thuộc vào sự đột biến” (Mathematical Challenges to the Neo-Darwinian Interpretation of Evolution, tiến sĩ Ernst Mayr, 1967, trang 50).  Tiến sĩ Mayr nói với chúng ta rằng tất cả những biến thể (các loại khác nhau của động vật và thực vật) có thể quan sát được trong sự sống là tùy thuộc vào những thay đổi trên gien và nhiễm sắc thể.  Những sự đột biến này diễn ra trong cấu trúc của DNA.

Tác giả Dr Jobe Martin

Nguồn tài liệu: tải về phiên bản tiếng Anh PDF

Từ chối trách nhiệm: VBI muốn đem đến nội dung đa chiều. Nên ý kiến của tác giả không phản ánh hay đại diện cho VBI. Đọc giả lưu ý để tự sàn lọc thông tin hữu ích cho mình.

DNA: NGÔN NGỮ CỦA TẾ BÀO

DNA, những hệ thống thông tin cơ bản của tế bào, chứa đựng những bản thiết kế cần thiết cho việc sản xuất ra hơn 20 loại protein khác nhau.  Mỗi loại protein trong số này được sản xuất trong những “nhà máy tế bào” (cell factories) dưới sự hướng dẫn của DNA và nó rất cần thiết để duy trì sự sống.  Thế thì, cái nào có trước? Nếu DNA là rất cần thiết cho quá trình sản xuất protein, và quá trình sản xuất ra protein lại tối cần thiết cho việc hình thành và tồn tại của DNA, thế thì bạn không thể có cái này mà thiếu cái kia.  Điều đó có nghĩa là cả hai phải được tạo dựng cùng một lúc và hoàn thành đúng chức năng của mình.  Nói cách khác, Đức Chúa Trời ắt hẳn đã tạo dựng hệ thống thông tin của tất cả các tế bào vào đúng thời điểm và có đầy đủ chức năng của mình.  DNA cần thiết phải có mới có thể tạo ra DNA! DNA cung cấp những hướng dẫn cho các nhà máy hóa chất trong một tế bào để tạo ra chính nó!

Các nhà khoa học gọi DNA là ngôn ngữ của tế bào.  Tất cả các khoa học gia đều đồng ý rằng ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự thông minh.  Điều này có ngụ ý rằng DNA, ngôn ngữ của tế bào, đòi hỏi phải có sự thông sáng để tạo nên nó? DNA đã được tạo dựng và đặt để bên trong mỗi dạng sống khác nhau của sự sống bởi chính một Nhà Thiết Kế tài năng, chính là Thượng Đế của Thánh Kinh! Tiến hóa không có câu trả lời nào cho vấn đề nặng ký này.  Nhưng Thượng Đế của Thánh Kinh phán bảo trong Kinh Thánh rằng: “Ta tạo dựng, tạo dựng, và tạo dựng!”

Những thông tin di truyền của DNA không thể chuyển đổi trong bất kỳ tổ chức sống bình thường và mạnh khỏe nào.  Sự chọn lọc tự nhiên hay “sự sống sót của các cá thể thích nghi” không sản xuất ra những gien mới, nó chỉ lựa chọn loài động vật hay thực vật, hoặc môi trường thích hợp để sinh sống và tồn tại.  Đây chỉ là sự thích nghi đặc biệt với môi trường chứ không phải là đột biến.  Nhưng đột biến lại chỉ là một cơ chế mà các khoa học gia đã đề ra để làm phát sinh thông tin di truyền “mới” cần thiết cho những thay đổi tiến hóa trong kiểu tiến hóa từ phân tử đến người.  Điều này đưa ra một vấn đề to lớn cho tiến hóa, đặc biệt khi chúng ta học biết rằng sự đột biến gien là một hiện tượng vô cùng hiếm hoi (The Mechanics of Evolution, Francisco Ayala, 1978, trang 63).

Làm thế nào sự sống có thể tiến hóa thành hàng triệu dạng sống (loài) khác nhau nếu cơ chế tối thiểu gây nên tiến hóa (đột biến) lại là một hiện tượng cực hiếm? Khi sự đột biến xảy ra, các nhà di truyền học nói cho chúng ta biết rằng những đột biến có đến 99,9% là có hại.

“Quá trình đột biến là cơ sở duy nhất cho những vật liệu sống của sự đa dạng về di truyền, và do đó, của cả tiến hóa…Những tác nhân đột biến khi xuất hiện, với tỉ lệ cực kỳ thấp, vốn rất có hại cho những cá thể mang chúng, ít nhất là trong những môi trường mà các loài đó đang sống bình thường” (Tờ American Scientist, số ra vào tháng 12/1957, trang 385, bài “On Methods of Evolutionary Biology and Anthropology” của Theodosius Dobzhansky).

Dobzhansky đã tiến hành những thí nghiệm nhân giống, lai giống, và gây tác nhân đột biến trên loài ruồi giấm suốt cả đời ông.  Cuối cùng, ông có được những con ruồi giấm là lạ, tuy nhiên, đó vẫn là ruồi giấm.  Một số trong số những con ruồi giấm này không thể thực hiện ngay cả việc sinh sản vì chúng đã trở nên vô sinh.  Dobzhansky viết rằng sự đột biến là cơ sở duy nhất của tiến hóa, nhưng cũng viết rằng chúng hầu như luôn luôn nguy hiểm (điều đó có nghĩa là sự đột biến càng làm cho các dạng sống trở nên ít thích nghi hơn để có thể tồn tại ngay cả trong môi trường hiện tại mà nó đang sống).  Nếu “sự sống sót của các cá thể thích nghi” là có thật, thì chính đột biến gây nên sự tuyệt chủng chứ không phải tạo nên những dạng sống mới tốt hơn.  Dĩ nhiên, những gì chúng ta thấy trong tự nhiên (quá khứ và hiện tại) là sự tuyệt chủng của các loài thực vật và động vật, chứ không thấy sự biến đổi và hình thành những loài mới.  Có đến hàng triệu dạng sống từ thực vật cho đến các loài côn trùng, nhưng hầu như tuần nào chúng ta cũng chỉ nghe đến sự tuyệt chủng.  Trong đời bạn, đã bao nhiêu lần bạn nghe rằng có những sinh vật mới tiến hóa xuất hiện? Với hàng triệu loài sống trên thế giới, chắc chắn sự đột biến có xảy ra và một cái gì đó cũng đang bị biến đổi.  Các nhà tiến hóa đang nghiên cứu từ những dấu hiệu nhỏ nhất cho thấy một cái gì đó sẽ tiến hóa để chứng minh thuyết của họ là đúng.

Vài năm trước, cộng đồng tiến hóa đã giới thiệu cho công chúng những thí dụ tốt nhất của họ để chứng minh rằng tiến hóa đang diễn ra.  Đó là một gia đình cá nước ngọt bị cách ly khỏi những người bạn cũ của chúng trong vài năm.  Khi những con cá được đem trở lại với nhau, chúng không giao phối với nhau.  Các nhà tiến hóa cho rằng một loài sẽ trở thành loài khác khi nó không còn giao phối với những người bạn cũ của nó nữa.  Có lẽ gia đình cá cảm thấy chẳng tốt lành gì khi lìa khỏi nơi ở tạm thời của nó.  Hay có lẽ những người bạn cũ của nó đã không nhận ra nó, hay có thể lắm những nhà nghiên cứu đã không chờ đợi đủ lâu để khẳng định xem chúng có chấp nhận nhau trở lại không.  Một sự thật là những con cá trong thí nghiệm này vẫn được xác định cách không nhầm lẫn bởi các khoa học gia và những người dân thường rằng chúng là giống cá nước ngọt.  Bằng chứng sự tiến hóa của một sinh vật thành một sinh vật khác là thế đấy, sau khi cho sinh sản trong hơn 11 năm, những con cá nước ngọt vẫn cứ được gọi là những con cá nước ngọt.

Ngay cả cho dù giống cá nước ngọt đó không chịu giao phối với nhau và vì thế được phân loại ra thành một loài mới của họ cá nước ngọt, điều đó chẳng chứng minh sự tiến hóa từ một loài này sang một loài khác.  Con người đã nghĩ ra các định nghĩa và sự phân loại của họ về các loài, nhưng Đức Chúa Trời chỉ nói đến “loại” trong Sáng-thế ký.  Về phương diện Kinh Thánh mà nói, có những ranh giới nào đó mà không dạng sống nào có thể vượt qua.  Một “loài” cụ thể nào đó sẽ chẳng bao giờ có thể tiến hóa thành một loài sinh vật khác.  Cá nước ngọt cũng là cá.  Trong vòng loài cá, có nhiều chỗ cho sự thay đổi, ngay cả thay đổi “tiến hóa,” nhưng cá vẫn mãi mãi là cá, con lớn, con nhỏ, nước ngọt, nước mặn…Cá vẫn mãi mãi là cá!

Thật chẳng đúng chút nào khi các nhà khoa học nói với chúng ta trong trường và trong các trường đại học rằng cơ cấu chính trong quá trình tiến hóa của chúng ta (nếu từng có) là sự đột biến của các gen, rồi thì họ lại nói trong các tài liệu khoa học rằng sự đột biến là hoàn toàn có hại và gây chết chóc: “Sự đột biến còn nhiều hơn những thay đổi bất thường trong di truyền; chúng cũng ảnh hưởng đến khả năng phát triển và tồn tại, và, như những gì chúng tôi đã biết, lúc nào nó cũng gây ảnh hưởng bất lợi” (_) (C.P.  Martin).

Vì thế chúng ta biết rằng đột biến trong một dạng sống khỏe mạnh sẽ luôn luôn tạo nên những thay đổi có hại hoặc làm cho cả tổ chức sống bị chết.  Làm thế nào tiến hóa từ phân tử đến người xảy ra nếu quá trình tối quan trọng khiến nó xảy ra, quả thật, lại làm hại hay giết chết tổ chức sống? Nói theo trật tự, tại sao các khoa học gia tiến hóa lại phải tản cư khỏi khu vực lò phản ứng Three Mile Island tại Pennsylvania khi nó phát nổ? Tại sao những nhà khoa học này không chuyển gia đình họ đến tận chỗ đó để “được” nhiễm xạ và như thế đột biến xuất hiện và họ có thể tiến hóa lên dạng sống cao hơn? Các khoa học gia biết rằng thế hệ con cháu của họ sẽ thừa hưởng những đặc tính không khỏe mạnh do sự tác động của phóng xạ tại Three Mile Island.  Họ chạy trốn khỏi nguồn phóng xạ gây đột biến càng nhanh càng tốt!

Một giáo sư di truyền học tại đại học Wisconsin, James Crow viết:

“…những kết quả của đột biến thường có hại.  Vì đột biến là một thay đổi ngẫu nhiên của một cơ thể sống được tổ chức cao, và chức năng tốt, hợp lý.  Một sự thay đổi ngẫu nhiên trong một hệ thống hòa nhập (integrated) các quá trình hóa học cấu thành nên sự sống thì hầu như và chắc chắn là sẽ làm cho nó suy yếu đi – giống như một sự xen kẽ ngẫu nhiên của các kết nối đằng sau một cái TV không làm cho hình ảnh của nó đẹp hơn” (Bulletin of Atomic Sciences, James Crow, 1958, trang 19-20).

Sự loại suy của tiến sĩ Crown hoàn toàn chính xác.  Tất cả chúng ta biết rằng việc nối lung tung các dây đằng sau cái TV cũng chẳng thể làm cho hình ảnh tốt hơn được.  Cùng một cách đó, những sự thay đổi ngẫu nhiên trong gien không cải thiện khả năng sống và thực hiện các chức năng của chúng ta.  Một sự thật nữa là chưa có nhà khoa học nào thấy sự đột biến ngẫu nhiên sản sinh ra một hormone, một enzyme, hay một cơ quan sống mới (_).  Tuy nhiên, họ lại dạy cho chúng ta và con cháu chúng ta một lời dối trá rằng chúng ta có ở đây vì những tổ tiên cổ xưa của chúng ta đã có những đột biến trong gien của họ làm cho họ tiến hóa ngày càng cao hơn và trở thành chúng ta.  Phép mầu!! Hãy lắng nghe những lời của một nhà tiến hóa nổi tiếng của đại học Pennsylvania, tiến sĩ Loren Eiseley:

“Với sự thất bại của những cố gắng này (để chứng minh tiến hóa là thật), khoa học đã bị đẩy vào chỗ lúng túng vì phải công nhận những nguồn gốc của sự sống vốn nó không thể chứng minh.  Sau khi mắng mỏ các nhà thần học vì lòng tin của họ nơi huyền thoại và phép lạ, khoa học tự thấy rằng chính nó đang đứng ở một vị trí (mà người ta chẳng thèm) phải tạo nên một thần thoại cho chính mình: gọi là, giả thuyết về những gì, sau những nỗ lực lâu dài mà vẫn không thể chứng minh nó đã thực sự diễn ra, đã diễn ra trong quá khứ cổ xưa” (The Immense Journey, tiến sĩ Loren Eiseley, 1957, trang 199).

SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT

Một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực tiến hóa thực vật và các thực vật hóa thạch, tiến sĩ E.  J.  H.  Corner tại trường đại học Cambridge đã khẳng định cách võ đoán:

“Thuyết tiến hóa không chỉ là thuyết về nguồn gốc của các loài, nhưng cũng là lời giải thích duy nhất cho một sự thật là các tổ chức sống có thể được phân loại thành mối quan hệ họ hàng có cấp bậc trong tự nhiên (hierarchy of natural affinity).  Nhiều bằng chứng có thể được viện dẫn để ủng hộ thuyết tiến hóa – từ sinh học, địa sinh học (bio-geography) và cổ sinh vật học, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng, đối với những người vô tư (không có thành kiến hay định kiến – ND), các hóa thạch của cây cỏ lại ủng hộ cho sự sáng tạo đặc biệt” (Evolution in Contemporary Botanical Thought, E.  J.  H.  Corner, 1961).

Theo chuyên gia Corner, không có bằng chứng cho sự tiến hóa của thực vật.  Quả thật, khi thực vật được nghiên cứu kỹ lưỡng, chúng là cả một sự sáng tạo đặc biệt! Lĩnh vực thực vật học không chứng minh tiến hóa, tuy thế, tiến sĩ Corner vẫn tin vào hệ thống tiến hóa hoang đường.  Ông tin vào những đồng nghiệp của ông trong “sinh học, địa sinh học và sổ sinh vật học” sẽ chứng minh tiến hóa là thật.  Trong lĩnh vực của Corner (thực vật học), sự sáng tạo đặc biệt là quan điểm tốt nhất.

Nếu không có bằng chứng cho sự tiến hóa của con người hay thực vật, thế thì sự tiến hóa của loài cá thì sao?

SỰ TIẾN HÓA CỦA LOÀI CÁ

“Các di tích địa chất cho đến hôm nay đã chẳng cung cấp một bằng chứng nào về nguồn gốc của các loài cá…” (A History of Fish, J.  R.  Norman, 1975, trang 11).

Theo những chuyên gia này, không có bằng chứng nào cho sự tiến hóa của thực vật, và cũng không có bằng chứng nào cho sự tiến hóa của loài cá.  Thế các loài lưỡng cư thì sao?

SỰ TIẾN HÓA CỦA CÁC LOÀI LƯỠNG CƯ

“…không loài nào trong số các loài cá đã biết được cho là tổ tiên trực tiếp của những động vật có xương sống trên cạn đầu tiên.  Đa số chúng sống sau khi những loài lưỡng cư đầu tiên xuất hiện, và những loài đã xuất hiện trước đó không có bằng chứng nào cho sự phát triển của những lá và cành cứng cáp vốn là đặc trưng của những loài thực vật bốn cánh cổ xưa (primitive tetrapods)…

Do những hóa thạch chẳng cung cấp bằng chứng nào cho những hướng khác của dạng sống trung gian từ loài cá sang loài thực vật bốn cánh, các nhà cổ sinh vật học đã phải suy đoán xem những cái chân và việc thở không khí đã tiến hóa thế nào…” (Vertebrate History: Problems in Evolution, Barbaba J.  Stahl, 1974, trang 148, 195).

Không có bằng chứng nào cho sự tiến hóa của thực vật và cũng không có bằng chứng cho sự tiến hóa của cá.  Còn gì nữa, bằng chứng duy nhất cho các loài lưỡng cư chính là “những suy đoán” của các chuyên gia hóa thạch.  Thế thì, bằng chứng cho sự tiến hóa của các sinh vật như họ giả định là đã phát triển khả năng bò ra khỏi nước và sống như động vật trên cạn chỉ nằm trong sự tưởng tượng của nhà tiến hóa mà thôi.  Không có hóa thạch nào và cũng không có chứng cớ nào ủng hộ niềm tin vào sự tiến hóa của các loài lưỡng cư.  Về các loài chim thì sao?

SỰ TIẾN HÓA CỦA CÁC LOÀI CHIM

“Nguồn gốc (tiến hóa) của các loài chim chỉ là một điều suy diễn.  Chẳng có một bằng chứng hóa thạch nào ghi lại những giai đoạn biến đổi quan trọng từ loài bò sát cho tới loài chim được tìm thấy” (Biology and Comparative Physiology if Birds, W.  E.  Swinton, 1960, trang 11).

Sự tiến hóa của loài chim là một điều tưởng tượng.  “Tưởng tượng” trong trường hợp này là một từ lịch sự cho khái niệm “suy diễn.”  Không có lấy một bằng chứng hóa thạch nhỏ nào được chấp nhận lại cho thấy những chuyển đổi tiến hóa từ loài bò sát sang loài chim.

Theo các chuyên gia tiến hóa trên, tiến hóa đã đang thiếu rất nhiều bằng chứng vững chắc! Cho dù chúng ta được dạy rằng đột biến là tốt vì chúng làm sản sinh những dạng sống mới và thúc đẩy tiến hóa, chúng ta cũng không thấy những điều “tốt” đó xảy ra trong thực tại sự sống.  Đột biến gien không thể là động lực đằng sau tiến hóa được.  Và những nhà tiến hóa cũng không thể cung cấp bằng chứng để chứng minh sự tiến hóa của các sinh vật.

THỜI GIAN TẠO NÊN NHỮNG PHÉP LẠ

Nhưng điều gì xảy ra nếu trái đất được công nhận là đã có đến hàng tỉ năm tuổi? Những lý luận xưa cũ luôn xuất hiện ở điểm này, rằng bất cứ thứ gì cũng đều có thể xảy ra trong một hệ thống ngẫu nhiên nếu nó có đủ thời gian.  Chúng ta sẽ thảo luận chuyện “hàng tỉ năm” trong chương 10.  Nhưng trước khi rời chương 9, xin chúng ta đừng quên rằng những thay đổi trong gien (đột biến ngẫu nhiên) chẳng thể cải thiện các dạng sống hiện tại, cũng chẳng có bằng chứng xác thực, vững chắc nào cho thấy chúng thúc đẩy các loài thực vật hay động vật phát triển.  Sự di tản cấp tốc khỏi khu Three Mile Island đã chứng minh điều đó cách quá rõ ràng! (Nếu những đột biến thật sự có ích, thì chúng ta nên vui mừng và sẵn sàng dọn đến đó ở hòng “cải thiện” những cơ hội tiến hóa của chúng ta!)

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

CON TẮC KÈ

“Con tắc kè là một giống thằn lằn lớn, bụng phệ (pot-bellied) có một bộ da rộng.  Dầu bộ da trông có vẻ quá lớn, nhưng nó chính là những gì con tắc kè cần khi kẻ thù của nó xuất hiện.  Bạn biết đấy, khi kẻ thù đến gần con tắc kè, nó sẽ chạy rất nhanh vào một khe hở trên đá và trốn vào đó.  Trong khe nứt của đá, con tắc kè hít không khí vào và thổi phồng lên như một cái bong bóng.  Khi kẻ thù đến gần, thì con tắc kè đã được chèn kín cách an toàn trong khe đá.  Dầu rằng khoảng cách với kẻ thù là rất ngắn, nhưng nó được an toàn.  Nhiền năm về trước, những người Da Đỏ ở sa mạc miền nam của nước Mỹ chúng ta đã học được cách làm thế nào bắt được con tắc kè.  Họ đâm vào mình nó bằng một cái mũi tên để làm thủng lớp da và khí sẽ xì ra; rồi sau đó người Da Đỏ dễ dàng bắt nó từ trong chỗ nấp.  Con người có lẽ là kẻ thù duy nhất của con tắc kè vì khi đối diện với anh ta, nó không thể nào được an toàn.

Dĩ nhiên, sa mạc thì rất khô cằn.  Một số con tắc kè sống ở nơi mà trong cả một năm chỉ có một cơn mưa rào.  Trong những nơi khô cằn này, con tắc kè nhìn chung sống lối sống ngủ đông (dormant life) trong gần cả một năm.  Nó nằm im hoặc ngủ suốt 7 tháng trong năm.

Khi thức giấc, con tắc kè ăn bất cứ loài thực vật nào có nhiều nước mà nó tìm được.  Những tuyến đặc biệt cất giữ nước từ cây cỏ, và con tắc kè mập lên vì thức ăn.  Nhìn chung, tắc kè thường ngủ từ tháng 8 năm trước đến tháng 3 năm sau.

Nhiều loài cây trong sa mạc hấp thu nhiều muối từ đất trong quá trình phát triển.  Con tắc kè nhận một lượng muối lớn qua thức ăn, lượng muối đó đủ giết chết một con vật bình thường khác.  Muối cũng sẽ giết chết con tắc kè nếu nó không có những tuyến đặc biệt thải muối ra ngoài.  Những tuyến này nằm ở trong lỗ mũi của con tắc kè, và, khi muối đã đầy những tuyến này, con tắc kè thỉnh thoảng hắt hơi.  Việc hắt hơi giúp tống khứ muối đã kết tinh mà các tuyến này đã lọc ra từ máu trong cơ thể.

Con tắc kè máu lạnh ngủ lâu, nhưng khi nó thức dậy, nó sẽ ấm lên nhanh chóng.  Những đêm trường trong sa mạc và buổi sáng tinh sương thường rất lạnh.  Những sinh vật máu lạnh thường rất chậm chạp và lờ đờ khi chúng lạnh, và những con tắc kè lạnh là những con dễ bị bắt.  Vì lý do đó, con tắc kè có bộ da màu sậm, hấp thu nhiệt cao.  Vào thời điểm cuối ngày, da con tắc kè chuyển sang màu phản nhiệt (heat-reflecting) sáng hơn, vì con tắc kè cũng không thể để cho mình bị quá nóng.  Sự hợp lý mà chúng ta tìm thấy khi quan sát con tắc kè và nghiên cứu cấu trúc thân thể nó đưa chúng ta đến chỗ nhìn nhận Đấng Sáng Tạo của nó.  Chỉ Đức Chúa Trời, Đấng toàn tri, toàn tại, mới có thể tạo dựng những điều kỳ diệu trên con tắc kè cũng như trên hết thảy mọi loài động thực vật khác để minh chứng cho con người thấy sự thực hữu của Ngài trên cõi trần gian và đời đời” (Order and Reality, DeWitt Steele, 1980, trang 138.  Các bậc cha mẹ có thấy rằng vẫn có những sách khoa học mà các con quý vị nên xem để giúp chúng chống lại quan điểm tiến hóa không?)

Mục Lục

  1. SỰ TIẾN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI THEO THUYẾT SÁNG TẠO
  2. …VÀ ĐẾN CÁC GIẢ THUYẾT
  3. ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ BỊ HẠ BỆ KHÔNG?
  4. NHỮNG CHUỖI MẮT XÍCH CÒN THIẾU VẪN CỨ THIẾU
  5. ĐƯỜI ƯƠI, KHỈ VÀ NGƯỜI
  6. CÁC ĐIỀU RĂN VÀ NHỮNG NGÀY CỦA TUẦN LỄ SÁNG TẠO
  7. MÀN HƠI NƯỚC CỦA TRÁI ĐẤT TRƯỚC TRẬN ĐẠI HỒNG THỦY
  8. SỰ TAN BIẾN CỦA LỚP MÀN HƠI NƯỚC
  9. SỰ ĐỘT BIẾN CÓ SẢN SINH RA NHỮNG DẠNG SỐNG MỚI HAY KHÔNG?
  10. TRÁI ĐẤT: TRẺ HAY GIÀ? HÃY CHO TÔI SỰ THẬT, KHÔNG PHẢI NHỮNG GIẢ THUYẾT