Khi nghiên cứu ở cấp phân tử, tế bào, hay xương hóa thạch, những tổ tiên tiến hóa của con người (người vượn, hay giả nhân) đã không xuất hiện.  Bất chấp điều này, nhiều cố gắng phức tạp đã được thực hiện để “chứng minh” rằng con người tiến hóa từ những động vật linh trưởng (các động vật giống khỉ).

Cuối thập kỷ 60 và đầu 70, nhiều cộng đồng khoa học đã xem Ramapithecus (một động vật giống khỉ) thuộc tổ tiên của loài đười ươi, hay khỉ không đuôi, thay vì vị trí khởi nguyên của nó là tổ tiên của loài người.  Khi đề cập đến Ramapithecus vào năm 1973, Alan Walker và Peter Andrews viết về những điều họ tin rằng hàm Ramapithecus chính là hàm của một con vượn hình người chính cống (tạp chí Tự nhiên (Nature), số 244, 1973, trang 313).

Nhưng đến 1982, con trai của Louis và May Leakey, một người tiên phong nổi tiếng thế giới trong việc nghiên cứu “người tiền sử” đã khẳng định:

“Chủng loại Ramapithecus được người ta cho là một nhóm mà từ đó các tổ tiên của chúng ta đã tiến hóa” (Human Origins, Richard E.  Leakey, 1982, trang 20).

Tác giả Dr Jobe Martin

Nguồn tài liệu: tải về phiên bản tiếng Anh PDF

Từ chối trách nhiệm: VBI muốn đem đến nội dung đa chiều. Nên ý kiến của tác giả không phản ánh hay đại diện cho VBI. Đọc giả lưu ý để tự sàn lọc thông tin hữu ích cho mình.

NGƯỜI PILTDOWN

Nếu Ramapithecus xuất hiện trong các sách giáo khoa tại các trường học và đại học như là một phần sự tiến hóa của con người, nó có thể bị đào thải cũng như người Piltdown.  Các răng của Piltdown đã được mài giũa và xương đã được làm cho biến màu để trông có vẻ như cổ xưa lắm.

14 năm sau khi người Piltdown bị cộng đồng khoa học tiến hóa phơi trần hoàn toàn là một thứ giả mạo, và là một trò đùa tồi tệ, Nhà xuất bản đại học Harvard đã viết những lời này (đoạn trích này hơi dài, nhưng tôi đưa nó vào để cho thấy cộng đồng khoa học tiến hóa đã đi xa bao nhiêu để ủng hộ những lời tuyên bố không thể xác minh được ngay cả nhiều năm sau khi một trong những “chứng cứ” của họ đã bị chứng thực là một âm mưu lường gạt cỡ bự):

“Eoathropus không giống như các hóa thạch người khác, người ta biết đến nó như một cái sọ chắp vá rời rạc và nửa bên phải của phần hàm dưới với hai cái răng, răng hàm thứ nhất và thứ hai.  Các mẫu vật do ông William Dawson tìm được từ một cái khe nhỏ cạnh bên đường tại Piltdown, Sussex, Anh quốc, và được ông Arthur Smith Woodward thẩm định.  Thật khó mà xác định được tuổi của chúng, vì các mảnh vỡ mang đặc điểm hòa lẫn những đặc điểm của các loài động vật có vú thuộc kỷ Pliocene và kỷ Pleistoncen trong vùng đá sỏi quanh bờ sông.  Nếu cùng thời với hầu hết người cận đại, người Piltdown có lẽ không mới hơn thời kỳ gian băng thứ ba, kể từ Hippopotamus (loài hà mã) và các loài động vật cận nhiệt đới khác cùng xuất hiện với nó.

Cái sọ quá rời rạc đến nỗi những người nghiên cứu nó đã không thể đồng ý về một sự tái tạo hoàn chỉnh nào cả: ước chừng sức chứa hộp sọ vào khoảng 1079cc đến 1500cc và một con số trung bình khoảng 1300cc cuối cùng đã được lưu tâm tới.  Nó không thuộc về loại người Neanderthal, nhưng có trán cao giống người hiện đại.  Bên cạnh các xương đặc biệt dày, nó không có gì đặc biệt.  Tuy nhiên, phần hàm lại được thừa nhận là giống hàm của một con tinh tinh hơn là của bất kỳ giống người nào, dù còn sống hay đã tuyệt chủng.  Điều này được tìm thấy trong bảng mô tả đầu tiên.  Hai răng trông giống răng hàm của người, nhưng phần còn lại của phần hàm lại dư quá nhiều khoảng trống để những cái răng bình thường có thể lắp vào.  Từ đó, trong việc phục hồi phần phía trước, Smith Woodward đã làm cho răng nanh lớn lên, giống như của con tinh tinh, và có một khoảng trống nhỏ (diastema).  Việc sửa chữa quan điểm của ông đã được thực hiện theo cách rất đáng chú ý một năm sau khi công bố, khi Dawson và Cha Teilhard de Chardin, người đang sàng lại đống đá sỏi nơi mà cái hàm được tìm thấy, phát hiện một răng nanh lớn.  Nó lớn hơn răng nanh của một người đến 2 lần và gần như hoàn toàn giống răng nanh của một con tinh tinh hiện đại.  Sự kết hợp này đối với nhiều người giờ đây đã trở nên rất không bình thường, thế là cái hàm được coi là có nguồn gốc từ một trong số những loài tinh tinh.  Tuy nhiên, khám phá sau đó về một số mảnh vỡ nữa gần tại khu vực đó có vẻ như đã thuyết phục hầu hết những người quan tâm rằng cái sọ và cái hàm thuộc về nhau.  Eoathoropus dawsoni (người Piltdown) khi đó đối với một số người là chuỗi mắt xích bị mất giữa con người và loài khỉ giả nhân.  Phần trán cao, cạnh lông mày (hốc mắt) không quan trọng, và bộ não lớn, tất cả những đặc điểm của một con người, nhưng cái cằm lẹm lại có những răng nanh lớn của loài tinh tinh” (Prehistoric Life, Percy E.  Raymond, 1969, trang 282, 283).

Thế đấy, mãi cho đến cuối 1967, Nhà xuất bản đại học Harvard đầy uy tín đến thế mà vẫn còn coi vụ lừa đảo Piltdown là một “…mắt xích còn thiếu giữa con người và loài khỉ giả nhân,” khi nó đã được chứng minh là một trò lừa từ gần 15 năm trước.

NGƯỜI NEBRASKA

Người Nebraska được biết đến từ một cái răng tìm thấy năm 1922.  Đến năm 1924, hộp sọ được phát hiện và cái răng vừa khít với chỗ trống – nó là một cái răng heo! (The Origin of Species Revisted, W.  R.  Bird, 1991, trang 227, 228).

NGƯỜI NEANDERTHAL VÀ NGƯỜI CRO-MAGNON

Chúng ta cũng có thể thêm rằng người Neanderthal và người Cro-magnon hiện nay được xem là giống người Châu Âu bình thường.  Một số trong số “những người tiền sử” này có một khoang chứa não lớn hơn người hiện đại.

Tiến sĩ Percy E.  Raymond thuộc đại học Harvard đã khẳng định:

“Về dung tích thật, sức chứa hộp sọ lớn hơn của một người Châu Âu bình thường, một số hộp sọ đo được 1600cc” (Raymond, trang 281).

Donald Johanson, một trong những chuyên gia về người hóa thạch (fossil man), viết:

“…Người Neanderthal.  Đây là một Homo (con người) khác.  Một số người nghĩ rằng anh ta cũng cùng chủng loại như chúng ta…

Tôi xem Neanderthal chẳng có gì đặc biệt cả.  Một người nghe nói về việc cho anh ta mặc một complê và cho anh ta đi xuống tàu điện ngầm.  Điều này là thật; một người có thể làm được như thế, và anh ta sẽ chẳng bao giờ bị để ý.  Anh ta chỉ to xương (heavier-boned) hơn giống người ngày nay chút xíu thôi, cổ xưa hơn trong một số nét ở mặt.  Nhưng anh ta là một người.  Não của anh ta cũng to như não người hiện đại, nhưng hình dạng thì có khác chút đỉnh.  Anh ta có thể đổi tiền dưới quầy tự động và mua quà lưu niệm không? Hoàn toàn có thể chứ” (Lucy: The Beginning of Humandkind, Donald C.  Johnanson và Maitland A.  Edey, 1981, trang 20).

Theo nhà tiến hóa Johanson, Neanderthal không phải là người tiền sử, cũng không phải là một tổ tiên tiến hóa nào đó, nhưng giống như chúng ta, một con người hiện đại!

NGƯỜI BẮC KINH (PERKING MAN)

Người Bắc Kinh đã được phân loại như một Homo erectus.  Anh ta biến mất trong suốt Thế Chiến Thứ Hai.  Chẳng còn lấy một mẫu xương nhỏ của người Bắc Kinh, dầu vậy, có nhiều sách vở đã viết về những cuộc tìm kiếm “xương” liên quốc gia.

Một cuốn sách vui và đáng đọc về việc nghiên cứu người Bắc Kinh, do Christopher Janus và William Brashler viết, có tựa đề Cuộc Tìm Kiếm Người Bắc Kinh (The Search for Peking Man).  Được đề cập trong cuốn sách như một trong những người giúp ích rất nhiều trong việc khám phá ra người Bắc Kinh là Teilhard De Chardin – một trong những thủ phạm lừa đảo trong vụ người Piltdown! Do đã dính líu vào vụ người Piltdown, và cũng liên quan đến vụ người Bắc Kinh, làm thế nào chúng ta có thể chắc rằng những tư liệu chúng ta có về người Bắc Kinh là đáng tin cậy?

Janus đã ghi lại toàn bộ con số những mảnh vỡ hóa thạch người Bắc Kinh trước cuộc xâm lược của Nhật Bản lên đất Trung Hoa:

“…175 mẫu vật, là những mảnh vỡ đã thu nhặt được, được dán nhãn, mô tả, chụp ảnh và phân loại” (The Search for Peking Man, Christopher Janus, 1975, trang 31).

Những cái tìm được về người Bắc Kinh:

“…5 cái sọ, khoảng 150 mảnh vỡ của hàm và răng, 9 xương đùi và các mảnh vỡ, 2 xương tay trên, một xương cổ, và một xương cổ tay” (như trên, trang 30).

Tất cả những mẫu vật này đã biến mất! Rõ ràng là các nhà khoa học tiến hóa không thể đồng ý ngay cả việc có bao nhiêu xương đại diện cho người Bắc Kinh.  Johanson ghi lại:

“…5 hộp sọ, 15 mẫu nhỏ hơn của hộp sọ hay mặt, 14 hàm dưới và 152 cái răng” (như trên, trang 32).

Thế thì chẳng có bằng chứng vững chắc nào minh chứng người Bắc Kinh là tổ tiên của giống người hiện đại.  Một số bức ảnh về các hộp sọ của người Bắc Kinh vẫn còn.  Các hộp sọ bị bể từ phía sau và có lẽ những bộ não đã được dùng làm thức ăn cho giống người hiện đại thực sự.  Thật chẳng thể nào có chuyện tổ tiên của loài người lại sống đồng thời với con người và những bộ não của ông ta được xem như một sự tinh xảo cho thế hệ con cháu, giống người hiện đại, của ông.  Đầu 1957, một nhà cổ sinh vật học người pháp, tiến sĩ Marcellin Boule, cho rằng những người đã làm nên các công cụ để giết chết người Bắc Kinh chính là giống người hiện đại thật sự (Fossil Men, Marcellin Boule, 1957, trang 535).

NGƯỜI JAVA

Tiến sĩ Eugene Dubois khám phá ra một sinh vật khác trong họ Homo erectus mà ông gọi là “Người Java.” Những gì tìm được của người Java là một nắp hộp sọ (skullcap) và một cái xương chân.  Vào cuối đời mình, ông Dubois công khai bác bỏ những gì mình tìm thấy.  Ông tin rằng cái xương chân thuộc về giống người ngày nay và cái nắp hộp sọ là của một con khỉ giả nhân hay một con vượn.

NGƯỜI HEIDELBERG

Người Heidelberg là một sinh vật khác thường được đề cập đến trong họ Homo erectus.  Johanson viết:

“Người Heidelberg, chẳng hạn, được đặt tên là Homo Heidelbergenis.  Người tìm thấy anh ta phát hiện rằng đó là một người đàn ông, vì thế thuộc về giống Homo, nhưng lại quyết định đặt anh ta ra riêng thành một loài phân biệt” (Johnanson, trang 36).

Những gì tìm được về người Heidelberg gồm có một hóa thạch đơn giản – hàm dưới và răng.  Người Heidelberg là một sự tưởng tượng được xây dựng quanh một cái xương hàm!

“LUCY” VÀ AUSTRALOPITHECINES

Ngay cả Australopithecines vẫn luôn phải đặt câu hỏi.  Ngôi sao của vị “tổ tiên loài người” này là “Lucy” với chiều cao 3,5 bộ của Donald Johanson.  Giả sử Lucy là sinh vật đầu tiên bước đi trên hai chân thay vì bốn chân, giống như một con khỉ giả nhân thường làm (và hiện nay vẫn vậy).  Lucy giống giống người hiện đại ở ba điểm (về mặt giả thuyết): đầu gối, độ dài tay chân, và xương chậu trái.  Cô ta có một khớp xương đầu gối giống của người, nhưng khớp xương này được tìm thấy sâu dưới vỉa đá đến 86 m và cách xa các phần còn lại của bộ xương đến gần cả một dặm.  Tuyên bố rằng khớp xương đầu gối này thuộc về một phần của một bộ xương được tìm thấy cách đó khoảng một dặm đường thì cũng hợp logic như nói rằng khúc xương đùi gà tìm thấy ở bãi đậu xe gần tiệm Gà Rán Kentucky (Kentucky Fried Chichken) vốn là cái chân của một con gà mà một phần bộ xương của nó được tìm thấy đằng sau vườn nhà bạn.  Chẳng có cách nào để chứng minh khớp gối đó thuộc về bộ xương của Lucy.  Johanson công bố rằng tỉ lệ độ dài tay-chân là 83,9%.  Nói cách khác, xương cánh tay của cô ta dài cỡ 83,9% xương chân.  Điều này sẽ đặt cô vào một vị trí giữa loài khỉ giả nhân (tay và chân có độ dài bằng nhau) và người (tay có độ dài khoảng 75% chân).  Con số 83,9% xem có vẻ rất cụ thể, nhưng xương chân đã bị vỡ và rải rác ở hai ba chỗ hoặc nhiều hơn và một đầu đã bị nghiền nát.  Các mảnh vỡ không khớp với nhau, thế cho nên chẳng có cách nào để đo đạc chính xác cả.  Con số 83,9% xem có vẻ tốt lắm, nhưng nó chỉ là một sự suy đoán (xem Ex Nihilo, số 6, năm 1983, trang 5).

Một phần xương khác giống như của người là xương chậu trái.  Phần xương này còn nguyên vẹn và được dùng để chứng minh rằng Lucy bước đi trong tư thế đứng thẳng.  Vấn đề là ở chỗ phần xương đó thực sự không minh chứng cho việc đi trong tư thế đứng thẳng.  Johanson tin rằng phần xương đó đã bị bóp méo bởi một số công cụ (tìm kiếm – ND).  Và chưa hết, chẳng có phần xương chậu nào khác để mà so sánh với nó.  Phần xương đó khi dựng đứng lên thì trông giống như Lucy đi lại trên cả bốn chân hơn!

Theo một nhà tiến hóa khác, tiến sĩ Solly Zuckerman, Australopithecus là một con khỉ giả nhân và bước đi trên bốn chân giống như con khỉ giả nhân.  Zuckerman định giá cái xương chậu của họ Autralopithecines và ông đi đến kết luận rằng chân tướng của cái xương đó lại là một loại của khỉ và khỉ đầu chó.  Quan sát nó từ một góc độ khác, nó “…hoàn toàn chẳng giống người, và rõ ràng là của khỉ hoặc khỉ giả nhân (_).”

Riêng với tiến sĩ Charles Oxnard, ông tin rằng Australopithecus đi lại giống như con tinh tinh hay đười ươi (trong quyển: Human Fossils: NewViews of Old Bones, 1979, trang 264).  Oxnard viết:

“Bây giờ chúng ta hãy trở lại vấn đề chính yếu của chúng ta: các hóa thạch Australopithecine.  Tôi sẽ không bàn nhiều đến các chi tiết về những cuộc nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện, nhưng chỉ bàn đến những thông tin…cho thấy rằng trong khi kiến thức thông thường chỉ ra rằng các mảnh vỡ Australopithecine nhìn chung giống như con người, và khi chệch hướng một chút về khỉ giả nhân Châu Phi, các nghiên cứu mới nhất cho thấy những kết luận hoàn toàn khác biệt.  Những khám phá mới cho thấy rằng những mảnh vỡ hóa thạch hoàn toàn khác hẳn so với các dạng sống khác; cho dù có những điểm giống nhau với các loài đang sống, chúng cũng chỉ được nhớ đến như loài tinh tinh mà thôi” (như trên, trang 273).

Lyall Watson đã đúng.  Dường như chẳng có đủ xương từ một người hóa thạch “thật,” “…để chỉ lấp đầy một cái hòm.”

NGHỆ THUẬT NHÂN CHỦNG HỌC (ANTHROPOLOGICAL ART)

Ngay cả tranh minh họa thường được dùng để miêu tả các sinh vật này cũng đáng ngờ.  Những bức tranh thuộc loại Địa Lý Quốc Gia (National Geographic) của loài khỉ hình người dần dần trở thành người cho đến cuối cùng bạn thấy một con người trên đường (tiến hóa – ND) (thường với một kiểu tóc như khỉ và một hàm râu) được gọi là nghệ thuật nhân chủng học (anthropological art).

“Thật không may, phần lớn những quan niệm của các họa sĩ lại đặt trên sự tưởng tượng, hơn là hiện vật…Nhiều công cuộc tái tạo lại là công việc của sự suy đoán mà thôi.  Các khúc xương chẳng nói lên điều gì về phần cơ bao bọc xung quanh chúng, mũi, môi, hay tai.  Các họa sĩ phải tạo nên một cái gì đó giữa một con khỉ giả nhân và một con người thực thụ: một mẫu vật nào được cho là lâu đời hơn thì họ sẽ làm cho nó giống như khỉ hơn…Kiểu tóc hoàn toàn là sự phỏng đoán.

Sự phỏng đoán thường dẫn tới những sai lầm” (Tờ Science Digest, bài “Anthropological Art,” số tháng 04/1981, trang 44).

Làm thế nào mà những lời như trên lại lọt vào một tờ báo tiến hóa như Science Digest? Những bức vẽ thuộc loại Địa Lý Quốc Gia đó về một người “đang tiến hóa” chỉ là sự giả định của các họa sĩ, sự tưởng tượng, và là công việc của suy đoán mà thôi.  Lần cuối cùng bạn thấy một cái xương có tóc bên trên là khi nào? Hay làm thế nào mà các họa sĩ biết kiểu dáng, hay loại lỗ tai, môi nào mà đắp lên trên những mảnh vỡ của hộp sọ hay nguyên cả một hộp sọ? Chẳng có cái môi nào trên xương sọ.  Như tờ Science Digest đã công nhận, đó chỉ là sự tưởng tượng của các họa sĩ, không phải là khoa học thực sự!

Mỗi khúc xương hay mẫu xương phát hiện được tận cho đến ngày nay đã được phân loại, không bởi chuyên gia này thì cũng bởi chuyên gia khác, thành khỉ giả nhân, khỉ, hay người – chứ không phải vượn người  (ape-man) hay người vượn (man-ape).

CÓ PHẢI MỘT CON KHỈ THỰC SỰ LÀ MỘT CON NGƯỜI KHÔNG?

Có những sự kiện khác đáng được đề cập đến khi cố chứng minh một người có tổ tiên tiến hóa giống loài khỉ.  J.  W.  Klotz đã liệt kê một số những khác biệt quan trọng giữa người và bộ động vật linh trưởng.  Tôi đã xem xét bảng liệt kê 31 điểm khác biệt chính yếu và chọn ra 10 điểm quan trọng nhất trong quan điểm của tôi.  Nếu con người tiến hóa từ bộ động vật linh trưởng, thì mọi thứ ở cột bên phải (các đặc điểm của bộ động vật linh trưởng) đã phải bằng cách nào đó tiến hóa thành những đặc điểm của người ở cột bên trái.

CON NGƯỜI BỘ ĐỘNG VẬT LINH TRƯỞNG

1. Hoàn toàn vận động trên hai chân

1. Đi trên 4 chân

2. Ngón chân cái nằm cùng hàng với các ngón chân khác

2. Ngón chân cái giống ngón tay cái

3. Bộ não lớn hơn

3. Bộ não nhỏ hơn

4. Cái đầu được thăng bằng trên đỉnh cột sống

4.  Đầu được nối về phía trước của cột sống

5. Ít trưởng thành hơn khi sanh ra

5. Trưởng thành nhiều hơn khi sanh ra (lớn hơn)

6. Nhiều đốt xương sống hơn

6. Ít đốt xương sống hơn

7. Tay ngắn hơn

7. Tay dài hơn

8. Chân dài hơn

8. Chân ngắn hơn

9. Tay một loại

9. Tay loại khác

10. 46 nhiễm sắc thể

10. 48 nhiễm sắc thể

 Đây là những khác biệt thực sự giữa người và bộ động vật linh trưởng.  Chúng ta hãy xem xét ba điểm

NGÓN CHÂN CÁI

Điều gì khiến cho ngón chân cái của loài động vật linh trưởng tiến hóa thành ngón chân cái trên bàn chân con người? Ngón chân này trên bàn chân của loài động vật linh trưởng có chức năng giống như một ngón tay cái.  Với ngón chân cái giống như ngón tay cái như vậy, nó có thể bám vào cây và leo lên.

Và ngón chân cái của con người thì nằm thẳng hàng với các ngón chân khác.  Trên thực tế, không có một loài động vật nào trong “gia đình tiến hóa” của con người với ngón chân cái được đặt nơi nào đó giữa “ngay phía trước” (out the front) của con người và “hướng về sau nhiều hơn và sang một bên” (more toward the rear and out the side) của loài động vật linh trưởng.  Không có loài động vật đang sống cũng như động vật hóa thạch nào cho thấy rằng ngón chân cái di chuyển từ sau ra phía trước của bàn chân.  Chắc hẳn quá trình chọn lọc tự nhiên sẽ đánh bẫy và tiêu diệt bất cứ con vật thuộc loài động vật linh trưởng nào đánh mất khả năng leo trèo với ngón chân cái “đang tiến hóa cao hơn” (evolving higher)! Nó sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng và sẽ không thể tiếp tục trong “chuỗi tiến hóa” thành con người.

VỊ TRÍ CỦA ĐẦU

Vị trí của đầu cũng rất đáng lưu ý.  Đầu người được giữ thăng bằng trên đỉnh cột sống để thuận tiện cho việc đi và chạy trong tư thế thẳng đứng với hai chân.  Đâu là bằng chứng cho thấy rằng những loài động vật linh trưởng bằng cách nào đó đã chuyển đầu của chúng từ vị trí ở ngay phía trước cột sống (để dễ hoạt động cả bốn chi trong việc di chuyển) lên vị trí phía trên cột sống như của con người? Làm thế nào một sinh vật hoạt động được khi đầu ở trong tư thế nửa của người, nửa của bộ động vật linh trưởng (không ở phía trên cột sống, mà cũng không ở phía trước cột sống – ND)? Rõ ràng là quá trình chọn lọc tự nhiên cũng sẽ đuổi kịp nó.  Có lẽ nó sẽ bị tuyệt chủng dù chỉ mới ra đời được một thế hệ.

CÁC BÉ SƠ SINH ĐỀU KHÔNG TỰ LO LIỆU ĐƯỢC

Tiến hóa có vẻ như đảo nghịch hoàn toàn khi bạn nhìn vào khả năng sinh tồn của các bé sơ sinh và đem so với loài động vật linh trưởng.  Các bé sơ sinh từ khi mới sanh cho đến nhiều tháng sau đó đều hoàn toàn không thể tự lo cho mình được (tự tìm thức ăn, đáp ứng nhu cầu cuộc sống và tăng trưởng – ND).  Những con khỉ mới ra đời đã biết chạy nhảy, leo trèo lên lưng mẹ nó để được mang đi đây đó một cách rất an toàn, thành thạo.  Làm thế nào những em bé sơ sinh đó đã tồn tại được? Và xác suất để cặp cha mẹ khỉ cuối cùng (đã tiến hóa gần thành loài người – ND) sanh ra một cặp song sinh khác giới (dizygotic twins – một đực một cái) vốn chẳng những không thể sống sót được như những con khỉ đầu tiên (non-ape human babies) (chưa tiến hóa – ND), mà còn không thể sinh sản ra con cháu (đực và cái) sau này để lại có thể tiếp tục sinh sản là gì? Và tại sao bây giờ chúng ta vẫn thấy có nhiều loài khỉ giả nhân và khỉ, nếu chúng đang tiến hóa thành một thứ gì khác, có lẽ ngay cả là con người? Một lần nữa, tôi có thể nhấn mạnh một sự thật rằng điều mà chúng ta thấy trong cuộc sống thực ngày hôm nay và trên những chứng cớ của lịch sử (hóa thạch – ND) là những loài động vật, thực vật và con người hoàn toàn phân biệt, xác định được; chứ không phải những dạng sống trung gian, chuyển đổi.

VẤN ĐỀ QUÁ ĐÔNG DÂN SỐ

Nếu, như những nhà tiến hóa tin tưởng, các động vật giống khỉ tiến hóa thành người khoảng 1 triệu năm trước (Lucy được cho là có 2,8 triệu năm tuổi), chúng ta sẽ phải đương đầu với tệ nạn quá đông dân số.  Tiến sĩ Henry Morris đã đưa ra một vài con số thú vị trong quyển sách của ông, Vũ Trụ Học Thánh Kinh và Khoa Học Hiện Đại (Biblical Cosmology and Modern Science) xuất bản năm 1970.  Giả sử cha mẹ sống đến 35 tuổi và có bốn đứa con, thì khoảng 3 tỉ người đã ra đời chỉ trong 1000 năm đầu tiên! Bạn có thể nói, “À, thế thì nhiều con quá.” Tiến sĩ Morris cho thấy những con số với một gia đình có 3 con, cũng trong điều kiện tính toán như trên.  Trong khoảng 2000 năm, dân số thế giới có thể lên đến khoảng 4,5 tỉ.  Với 2,5 con mỗi gia đình và kéo dài tuổi thọ mỗi thế hệ lên 43 năm, trong không hơn 4000 năm, 3 tỉ người đã sống trên đất.  Nhận xét một lời, tiến sĩ Morris nói: “Quá rõ ràng một điều là chủng tộc loài người không thể quá già như thế!”

Theo tiến sĩ Morris, nếu dân số thế giới bắt đầu với hai người vào thời điểm 4300 trước, nó sẽ chỉ gia tăng với tỉ lệ 0,5% một năm để đạt tổng dân số thế giới năm 1970.  Con số 0,5% này ít hơn tỉ lệ gia tăng dân số năm 1970 đến 4 lần (2%).  Ít dân tộc đã công nghiệp hóa có những gia đình lớn hơn mức trung bình.

Tiến sĩ Morris khẳng định rằng con số ước đoán tốt nhất về dân số thế giới vào thời điểm của Chúa Jêsus là khoảng 200 triệu người.  2,75 con trên một gia đình, cộng với 40 năm cho một thế hệ và bắt đầu với 2 người năm 2340 trước Chúa, thì sẽ có khoảng 210 triệu người sống vào năm 1 Công Nguyên.  Những con số này rất phù hợp với thời điểm Thánh Kinh.

Xem xét đến các ảnh hưởng của chiến tranh và bệnh tật đối với dân số, tiến sĩ Morris nói:

“Nhưng về khả năng của những bệnh dịch lớn và chiến tranh trong quá khứ đã đóng vai trò làm chậm sự gia tăng dân số theo như tỉ lệ đã đề ra thì sao? Có thể nào dân số vẫn không thay đổi qua nhiều thời đại dài mà chỉ trong những thời điểm hiện tại nó mới bắt đầu gia tăng thì sao?

Dĩ nhiên, chúng ta không thể trả lời những câu hỏi này một cách võ đoán, vì những dữ liệu về dân số là không có giá trị trong những thời kỳ đầu tiên…

Hơn nữa, thật sự không có bằng chứng cho thấy sự gia tăng dân số đã bị làm chậm lại bởi chiến tranh hay những trận dịch lớn.  Thế kỷ qua, vốn đã trải qua giai đoạn phát triển dân số lớn nhất, cũng đã chứng kiến những cuộc chiến tranh hủy diệt nhất trong lịch sử, cũng như những trận dịch và nạn đói tàn khốc nhất” (như trên, trang 76).

Tiến sĩ Morris lựa chọn dân Do Thái làm một ví dụ tốt về sự chính xác cho những tính toán dân số của ông.  Dân Do Thái không có quê hương trong nhiều năm.  Họ phải chịu đựng sự bắt bớ và tàn sát khủng khiếp.  Morris thống kê rằng nếu một gia đình Do Thái có trung bình 2,4 con và mỗi thế hệ sống 43 năm, thì trong 3.700 năm (bắt đầu từ thời của các tổ phụ, Gia-cốp) ắt sẽ có 13.900.000 người Do Thái còn sống năm 1970.

Con người không thể nào đã từng ở đây, là con người vào 1 triệu năm về trước.  Dựa vào tính toán của Morris, 1 triệu năm thì có hơn 28.600 thế hệ, vốn sẽ đưa dân số thế giới năm 1970 lên 10 lũy thừa 5000 (105000) người! Số người đó đủ để lấp đầy toàn cõi địa cầu, và chúng ta không kể đến chuột cũng như thỏ.  Tiến sĩ Morris đã nói:

“Quá rõ ràng một điều là chủng tộc loài người không thể quá già như thế!…Giả thuyết của các nhà tiến hóa về việc con người xuất hiện vào thời điểm 1 triệu năm về trước, hay hơn nữa trở nên hoàn toàn phi lý khi nhìn dưới góc độ phân tích và thống kê dân số” (như trên, trang 75, 77).

Nếu con người đã xuất hiện 30 triệu năm, 15 triệu năm hay chỉ 500.000 năm trước, thì phải có hàng trăm tỉ hóa thạch rải rác thành từng đống khổng lồ khắp nơi trên thế giới! Thế thì người hóa thạch đâu? Chúng ta hãy đối diện với nó – con người đã không và không thể nào xuất hiện trên đất này nhiều hơn là vài ngàn năm trước! Nếu những nghiên cứu về thống kê dân số cho thấy khoảng lịch sử ngắn ngủi của con người trên đất (khoảng vài ngàn năm), thì tiến hóa của con người trên nhiều ngàn hay nhiều triệu năm là hầu như, nếu không nói hoàn toàn, không thể xảy ra!

NGƯỜI TIỀN SỬ THẬT CHẲNG TIỀN SỬ CHÚT NÀO

Có thể nào người “tiền sử” cuối cùng lại không phải là “tiền lịch sử” không? Gióp có lẽ đã đề cập đến loại người mà các khoa học gia gọi là “người ở hang” (cavemen – người thượng cổ) khi ông viết:

Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để chung với chó của bầy chiên tôi. Sức mạnh của họ đã hư hại rồi, vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi? Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ. Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, rễ cây giếng giêng làm vật thực cho họ. Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người, người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, trong hang đất và giữa các hòn đá. Chúng tru thét giữa bụi cây, nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai. Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, họ bị đuổi ra khỏi xứ” (Giop 30:1-8).

Có lẽ “người ở hang” bị đuổi khỏi xã hội văn minh trong thời đại của họ.  Có lẽ đây là những người có tâm trí đam mê phóng đãng do tội lỗi thường ngày của họ và sự suy đồi.  Trong bất cứ biến cố gì, họ không phải là những tổ tiên của loài người.  Họ sống cùng thời với con người.

Thượng Đế của Thánh Kinh phán rằng Ngài đã tạo dựng nên con người theo hình Ngài từ bụi của đất:

Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh” (Sa 2:7).

Đức Chúa Trời nắn hình người từ bụi đất, chứ không phải từ một sinh vật tiền sử, giống khỉ, hay giống người hay một thứ bùn nhão (ooze) nguyên thủy nào cả.  Bụi đất, bởi sự thiết kế và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, đã trở thành con người; nhưng con người vẫn chưa có sự sống cho đến khi Đức Chúa Trời hà sự sống vào con người. 2:7 đã cho thấy rõ ràng rằng sự tiến hóa của con người từ một sinh vật sống nào đấy trước đó là hoàn toàn không thật.  Con người đến từ bụi đất không có sự sống, bởi sự thiết kế và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, và con người không có sự sống cho đến khi Đức Chúa Trời truyền sự sống vào tạo vật đặc biệt này.  Điều này có nghĩa là con người không thể là sản phẩm của sự tiến hóa từ một sinh vật giống khỉ sống trước đó.  Con người đã được tạo dựng bởi chính Đức Chúa Trời, theo chính hình Ngài.  Không thể có điều gì thỏa đáng hơn cho Cơ Đốc nhân về nguồn gốc của loài người.  Chúng ta không đến từ những sinh vật giống khỉ, nhưng từ một quyền năng khôn tả, khôn lường và siêu nhiên của Đức Chúa Trời, Thượng Đế của Thánh Kinh.

NGUYÊN TẮC ANTHROPIC

(ANTHROPIC PRINCIPLE)

Đức Chúa Trời đặt để con người, tạo vật tuyệt đỉnh của Ngài, trong một môi trường của những chế độ cực kỳ tinh xảo.  Các khoa học gia ngày nay gọi sự cân bằng của các hệ sinh thái (nơi duy trì sự sống cho con người) là “nguyên tắc anthropic.” Để duy trì sự sống, chúng ta cần phải có đúng lượng O2, H2, CO2, ánh sáng mặt trời, từ trường, tốc độ quay và sự quay của trái đất, khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng, tần ôzon (O3), nước, trọng lực, v.v…Tất cả những nhân tố này phải có đúng liều lượng, ở đúng nơi, và đúng lúc, cũng như có tương quan chính xác với nhau.  Chẳng hạn, nếu trọng lực trái đất yếu đi, khí quyển chung quanh chúng ta sẽ mỏng dần và sẽ không thể duy trì sự sống nữa.  Nếu trọng lực trở nên mạnh hơn, các loại khí như ammoniac, hơi đốt, sẽ bị cô đặc hơn (concentration) và trở nên có hại cho sự sống.  Có nghĩa là trái đất chúng ta đã được tạo dựng ở một kích cỡ rất chính xác, để cho ra đúng mức trọng lực giúp duy trì bầu khí quyển.  Nhưng kích thước đó cũng phải đủ lớn để giữ cho mặt trăng của chúng ta vẫn ở trên quỹ đạo – cũng có nghĩa là mặt trăng phải được tạo dựng ở đúng một kích cỡ nào đó để nó không bị bắn vào không gian hoặc rơi thẳng xuống trái đất – và mặt trăng cũng phải lớn đúng kích cỡ để duy trì ảnh hưởng trên thủy triều đại dương.  Chúng ta có thể cứ nói mãi về những điều này, nhưng một sự thật là tiến hóa, lời giải thích cho sự kỳ bí của vũ trụ này, đã trở nên hoàn toàn phi lý! Đức Chúa Trời, Thượng Đế của Thánh Kinh, xứng đáng được ngợi khen và chính Ngài, chỉ mình Ngài, đáng nhận sự vinh hiển và tôn kính.  “Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng toàn năng” (Thi 91:1).

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

CON HƯƠU CAO CỔ

Chúng ta hãy xem xét một trong số những tạo vật kỳ diệu khác trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời – con hươu cao cổ.  Con hươu cao cổ được tạo dựng là một động vật hoàn hảo, và độc nhất.  Một con hươu cao cổ trưởng thành có thể cao đến 18 bộ (6 m).  Để có thể bơm máu qua cái cần cổ dài lên đến tận đầu, con hươu cao cổ cần một cái bơm mạnh mẽ.  Quả tim của nó dài khoảng 2,5 bộ (7,5 dm).  Nó mạnh đến nỗi khi con vật cúi xuống để uống nước, áp lực máu có thể làm nổ tung mạch máu não.

Thuyết tiến hóa nói rằng một cái gì đó sẽ không tiến hóa cho đến khi nó thấy cần thiết.  Nhưng con hươu cao cổ sẽ không biết rằng nó cần phải bảo vệ bộ não khỏi nguy cơ bị hủy hoại bởi áp lực máu cực mạnh cho đến khi nó chết đi vì xuất huyết não lúc đang uống nước.  Làm thế nào nó có thể “tiến hóa” để có một cơ cấu bảo vệ, sau khi biết rằng nó cần có bộ phận đó, nếu như nó không còn sống để làm chuyện đó?

Con hươu cao cổ có một bộ phận bảo vệ được chính Đấng Tạo Hóa chúng ta tạo nên.  Khi con hươu cao cổ cúi đầu xuống để uống nước, các van trong mạch máu ở cần cổ nó bắt đầu đóng lại.  Máu trước cái van cuối cùng vẫn tiếp tục chảy về não.  Nhưng thay vì với một tốc độ và áp lực cao làm hỏng hoặc giết chết não, cú bơm máu cuối cùng đó thay đổi hướng đi vào não qua một nhóm các mạch máu tương tự như bọt biển.  Bộ não được an toàn và sức bơm mạnh mẽ của loạt máu đầy ôxy nhẹ nhàng làm phồng đám “bọt biển” bên dưới nó.

Tuy nhiên, cũng từ bộ phận bảo vệ này, một vấn đề khác phát sinh.  Một con sư tử lẻn đến và chuẩn bị tóm gọn con mồi của nó.  Con hươu cao cổ nhanh chóng ngẩng cao đầu lên và, không có cái gì để bù lại cho việc thiếu áp lực máu để đưa lên não, ngã ra chết.  Nó ngẩng đầu lên nhanh quá, nên áp lực máu vốn đã quá yếu không thể chảy lên não được.  Con sư tử ăn bữa thịt nóng còn con hươu cao cổ thì đã chết nên không thể nhận ra rằng nó cần phải tiến hóa để có một bộ phận bảo vệ tốt hơn nhằm cung cấp đủ máu cho bộ não đang thiếu ôxy của nó! Chúng ta thảy đều biết rằng động vật đã chết thì không thể tiến hóa, ngay cả việc tiến hóa đòi hỏi những sinh vật của nó phải nhận thấy rằng chúng cần có sự cải thiện trước khi sự cải thiện đó bắt đầu tiến hóa (để hình thành – ND).

Nhưng con hươu cao cổ vẫn sống! Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng nên nó theo cách mà khi nó vừa ngẩng đầu lên, các van trong mạch máu bắt đầu mở ra.  Đám “bọt biển” (sponge) ép máu đầy ôxy nó chứa lên não, các tĩnh mạch chạy xuống cổ có một số van đóng lại để giúp cân bằng áp lực máu, con hươu cao cổ có thể nhanh chóng đứng thẳng lên và bắt đầu chạy mà không phải chết, thành bữa trưa cho con sư tử.  Đức Chúa Trời đã tạo dựng con hươu cao cổ như vậy, với tất cả những bộ phận hoàn hảo và sẵn sàng hoạt động trong mọi tình huống khẩn cấp.  Không có cách nào con hươu cao cổ có thể tiến hóa những đặc điểm đặc biệt của nó.  Các bộ phận chức năng của con hươu cao cổ đòi hỏi phải được tạo dựng nên bởi chính Đấng Tạo Hóa.  Tại sao Đức Chúa Trời lại không là Đấng Tạo Hóa của mọi vật?

Mọi người đồng ý, con hươu cao cổ là con hươu cao cổ.  Nó là một loài hoàn toàn phân biệt, một loài không thể lẫn lộn vào đâu được.  Không ai có thể nói con hươu cao cổ là một “mắt xích còn thiếu” hay một “dạng sống trung gian.” Một con hươu cao cổ không phải là một sinh vật có nguồn gốc tiến hóa từ một sinh vật nào khác, hay sẽ biến đổi sang một loài động vật “cao hơn,” phức tạp hơn – một con hươu cao cổ vẫn là một con hươu cao cổ.  Khoa học thực nghiệm có thể chứng minh điều đó, và rằng sẽ có những kết quả cho thấy sự cần thiết của một hành động sáng tạo.  Loài động vật cổ dài này từ ban đầu đã được tạo dựng với tất cả những đặc tính phức tạp và hoàn toàn hoạt động đúng chức năng của nó.

Con hươu cao cổ chính là bằng chứng cho sự thực hữu của Đấng Tạo Hóa!

Mục Lục

  1. SỰ TIẾN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI THEO THUYẾT SÁNG TẠO
  2. …VÀ ĐẾN CÁC GIẢ THUYẾT
  3. ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ BỊ HẠ BỆ KHÔNG?
  4. NHỮNG CHUỖI MẮT XÍCH CÒN THIẾU VẪN CỨ THIẾU
  5. ĐƯỜI ƯƠI, KHỈ VÀ NGƯỜI
  6. CÁC ĐIỀU RĂN VÀ NHỮNG NGÀY CỦA TUẦN LỄ SÁNG TẠO
  7. MÀN HƠI NƯỚC CỦA TRÁI ĐẤT TRƯỚC TRẬN ĐẠI HỒNG THỦY
  8. SỰ TAN BIẾN CỦA LỚP MÀN HƠI NƯỚC
  9. SỰ ĐỘT BIẾN CÓ SẢN SINH RA NHỮNG DẠNG SỐNG MỚI HAY KHÔNG?
  10. TRÁI ĐẤT: TRẺ HAY GIÀ? HÃY CHO TÔI SỰ THẬT, KHÔNG PHẢI NHỮNG GIẢ THUYẾT