Tác giả Hê-bơ-rơ nói với chúng ta, “Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.” (Hê-bơ-rơ 11:1). Đức tin cũng được nói đến như là sự tin chắc, sự tự tin, sự chấp nhận, và điều đó sinh ra sự vâng phục. Dựa trên nền tảng đức tin mà một người trở nên một môn đồ Đấng Christ và cũng bởi đức tin mà người đó tiếp tục là một tín đồ Đấng Christ.

Một lần nữa, tác giả Hê-bơ-rơ nói, “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Ðức Chúa Trời phải tin rằng có Ðức Chúa Trời, và Ngài là Ðấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.” (Hê-bơ-rơ 11:6). Xin hãy ghi nhớ rằng ở đây có hai sự liên quan trong việc tin vào Đức Chúa Trời. Đầu tiên, một người phải tin rằng Ngài hiện hữu. Thứ hai, người đó phải tin rằng Đức Chúa Trời ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài. Làm sao mà đức tin của một người có thể được chấp nhận nếu thiếu đi một trong hai?

Làm sao mà chúng ta có thể không tin rằng có Đức Chúa Trời khi chúng ta nhìn xung quanh ta và thấy tất cả mọi thứ tồn tại? Có các tầng trời, đất, muôn loài, loài người. Tất cả những điều này chỉ ra rằng có một Đấng Tạo Hóa. Đa-vít công bố rằng: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.” (Thi Thiên 19:1). Chỉ có Kẻ dại dột mới nói chẳng có Ðức Chúa Trời (Thi Thiên 14:1).

Nhưng nếu tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời là chưa đủ. Chúng ta cũng phải tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Con của Ngài. Chính Đấng Christ phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Ðức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa.” (Giăng 14:1). Có nhiều câu Kinh Thánh khác cũng dạy giống vậy. Hãy nghe: “Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16). “Tuy vậy, Ðức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Ai tin ta, chẳng phải tin ta, nhưng tin Ðấng đã sai ta đến” (Giăng 12:44).

Vậy còn những người không tin vào Đấng Christ thì sao? Kinh Thánh cũng nói với chúng ta về những người này. Đấng Christ phán: “Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Ðức Chúa Trời.” (Giăng 3:18). “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Ðức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.” (Giăng 3:36). “Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Ðấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi.” (Giăng 8:24).

Từ các câu Kinh Thánh nói trên, chắc chắn chúng ta có thể nhìn thấy các phước lành đến từ việc tin Chúa, nhưng cũng đồng thời chúng ta nhìn thấy các sự rủa sả, khốn nạn, và sự hình phạt mà sẽ đến trên những ai chọn không tin vào Ngài.

Những điều mở ra ở đây là gì khi chúng ta tin nơi Đức Chúa Trời và Đấng Christ là Con của Đức Chúa Trời? Chúng ta có thể chấp nhận chúng về mặt tinh thần, nhưng có đủ chưa? Lời của Đức Chúa Trời nói với chúng ta rằng chúng ta phải bày tỏ đức tin của chúng ta, hay chứng minh nó. Đấng Christ phán, “Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” (Lu-ca 6:46). Một lần nữa, Ngài phán rằng, “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Mathiơ 7:21-23). Bấy giờ những người này đã là những người tin, và hơn nữa họ đang thực hành trong tôn giáo, nhưng điều sai trái là gì? Họ không có làm theo ý muốn của Cha trên trời.

Chúng ta phải tin Chúa với phạm vi là chúng ta sẽ làm những gì Ngài phán mà chúng ta nên làm. Điều này là vì sao “chỉ tin thôi” thì không thể được cứu bởi vì nó là đức tin chết. Gia-cơ viết: “Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết.” (Gia-cơ 2:17). Ông tiếp tục, “nhân đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.” (Gia-cơ 2:24). Và cuối cùng, “Vả, xác chẳng có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.” (Gia-cơ 2:26). Trong những câu Kinh Thánh khác nhau này, tác giả đang chỉ ra cho chúng ta rằng điều đó cần nhiều hơn “chỉ tin thôi” để được cứu. Ông bổ sung cho điều này bằng nhiều minh họa.

Thỉnh thoảng những người rao giảng và dạy dỗ về “chỉ tin thôi” chỉ đến Giăng 3:16 như là một minh chứng cho sự dạy dỗ của họ. Tuy nhiên, Đấng Christ đã không phán gì về “chỉ tin thôi”. Hơn nữa, Ngài bày tỏ rằng nếu chúng ta tin vào Đức Chúa Trời chúng ta sẽ không bị hư mất nhưng sẽ nhận sự sống đời đời. Nhưng câu hỏi là: một người sẽ phải làm gì nếu người đó thật sự tin vào Đức Chúa Trời và lời của Ngài? Người đó sẽ vâng lời Chúa, dĩ nhiên là vậy, và đó chính là đại ý.

Vâng, được xưng công bình bởi đức tin (Rô-ma 5:1), nhưng không phải bởi chỉ tin mà thôi. Chúng ta được cứu bởi ân điển qua đức tin (Ê-phê-sô 2:8-9), nhưng không phải bằng cách “chỉ tin mà thôi”. Chắc chắn rằng một người sẽ không tranh cãi rằng một người có thể được cứu ngoài sự ăn năn, phép báp-têm, đời sống môn đồ Đấng Christ, …v.v, và nếu giảng rằng “chỉ tin mà thôi” thì một người sẽ bị đẩy rơi vào tình thế đó. Thật sự, cả vấn đề nằm ở chỗ ý nghĩa của đức tin, và hình thức của đức tin mà Kinh Thánh đang nói đến là một đức tin sống động, một đức tin hành động, một đức tin có việc làm, và một đức tin vâng phục. Chúng ta đọc thấy Đức Chúa Jêsus xem thấy đức tin của những người mang một người bệnh đến cho Ngài (Ma-thi-ơ 9:2). Ngài muốn nhìn thấy đức tin của chúng ta hơn là chỉ nghe chúng ta nói về đức tin. Ngài muốn chúng ta biểu lộ nó hay chứng minh nó qua hành động của chúng ta và bởi sự vâng phục các mạng lệnh của Ngài. Nếu không thì đức tin của chúng ta là chết và vô ích.

Đức tin là một trong các mạng lệnh của tin lành Đấng Christ. Đức tin đến bởi sự nghe lời Đức Chúa Trời (Rô-ma 10:17). Đức tin dẫn một người đến sự ăn năn tội lỗi của mình, để xưng nhận rằng Đấng Christ là Con của Đức Chúa Trời, và chịu phép báp-têm để được tha tội, và chúng ta sẽ ghi chú từng điều này trong các bài học tiếp theo. Nhưng không có đức tin này thì sẽ không có sự vâng phục cho các mạng lệnh này. Với đức tin thật, tự nhiên sự vâng phục sẽ sinh ra. Đức tin sẽ không nghi ngờ các mạng lệnh của Chúa, nhưng nó sẽ đồng ý làm theo. Đức tin sẽ không từ chối sự dạy dỗ của Ngài nhưng sẽ vâng theo.

Đấng Christ phán, “Ai tin và chịu phép báp-têm, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt.” (Mác 16:16). Điều này là tự nhiên khi một người không tin, người đó cũng sẽ không vâng phục Chúa. Đồng thời, nếu người đó tin vậy người đó sẽ vâng phục Đấng Christ và đó có nghĩa là người đó sẽ chịu phép báp-têm. Thật đơn giản làm sao! Trong tất cả trường hợp của sự ăn năn trong sách Công vụ các Sứ Đồ, bạn có một bên là người giảng tin lành cho các tội nhân. Vậy người đó nghe, tin tin lành, ăn năn tội của mình, xưng nhận Đấng Christ, và chịu phép báp-têm để được sự tha tội. Điều gì xảy ra? Ngay khi một người nghe tin lành và đi đến việc tin tin lành, sẽ không có vấn đề cho những việc còn lại, bởi vì người đó sẵn sàng vâng phục các mạng lệnh của Chúa. Cả vấn đề xoay quanh là người đó có tin hay không.

Chúng ta đọc trong Công vụ các Sứ Đồ 2 về một nhóm những người không tin. Một vài người trong số chúng đã thật sự tham gia vào việc đóng đinh Chúa. Sau đó Phi-e-rơ và các Sứ Đồ đã rao giảng tin lành cho chúng. Họ đã trình bày làm thể nào mà Đấng Christ thật sự là Con của Đức Chúa Trời. Sau khi thuyết phục chúng về điều này, câu hỏi đơn giản là: “chúng ta sẽ làm chi?” (Công vụ các Sứ Đồ 2:37). Nói cách khác, chúng đã sẵn sàng để hành động trên đức tin của mình, và có khoảng 3000 người đã tin (Công vụ các Sứ Đồ 2:41). Kinh Thánh nói rằng Phi-líp đã rao giảng tin lành cho người Sa-ma-ri và nhiều người đã tin và chịu phép báp-têm (Công vụ các Sứ Đồ 8:12). Khi Phi-líp đã giảng Đấng Christ cho hoạn quan, Kinh Thánh ghi rằng ông đã tin và trên những gì được giảng là phải làm những gì, ông đã vâng theo và quay trở về đường mình cách vui vẻ (Công vụ các Sứ Đồ 8:26-39). Trong Công vụ các Sứ Đồ 16 chúng ta có câu chuyện của Phao-lô và Si-la đang nói với người đề lao rằng ông phải tin để được cứu. Nhưng ông đang là kẻ không tin. Vì vậy họ giảng lời của Đức Chúa Trời cho ông và cả nhà ông để họ được cứu, kế đến Kinh Thánh nói với chúng ta rằng như là một kết quả, người đề lao đem họ ra rửa vết thương, sau đó ông và cả nhà của mình bày tỏ sự ăn năn và chịu phép báp-têm ngay lập tức (Công vụ các Sứ Đồ 16:30-33). Sự thật cũng tương tự với tất cả các trường hợp khác của sự ăn năn.

Cuối cùng, Kinh Thánh dạy rằng chỉ có một đức tin (Ê-phê-sô 4:5). Chỉ có một Kinh Thánh và khi tất cả chấp nhận và tin, thì chúng ta hết thảy có cùng một đức tin, và đức tin đó sẽ dẫn chúng ta tất cả cùng làm một việc giống nhau – để vâng phục Chúa và trung tín với Ngài.

TIN LÀNH CỦA ĐẤNG CHRIST

13 BÀI HỌC ĐƯỢC DẠY TỪ LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI

J.C. CHOATE

Mục Lục

  1. TIN LÀNH CỦA ĐẤNG CHRIST BÀI 1
  2. NHỮNG SỰ KIỆN CỦA TIN LÀNH BÀI 2
  3. SỰ KÊU GỌI CỦA TIN LÀNH BÀI 3
  4. SỰ VÂNG PHỤC TIN LÀNH BÀI 4
  5. VIỆC NGHE TIN LÀNH BÀI 5
  6. ĐỨC TIN NƠI ĐỨC CHÚA TRỜI BÀI 6
  7. SỰ ĂN NĂN TỘI LỖI BÀI 7
  8. SỰ XƯNG NHẬN ĐẤNG CHRIST BÀI 8
  9. PHÉP BÁP-TÊM ĐỂ ĐƯỢC THA TỘI BÀI 9
  10. CÁC ƠN PHƯỚC CỦA TIN LÀNH BÀI 10
  11. VIỆC RAO GIẢNG TIN LÀNH BÀI 11
  12. VIỆC GIẢNG NHỮNG TIN LÀNH KHÁC BÀI 12
  13. SỰ NGĂN TRỞ TIN LÀNH BÀI 13